Phân bổ Địa Chi (mười hai chi từ Tý đến Hợi) trên sáu hào trong quẻ Dịch được thực hiện theo quy luật nạp chi của phương pháp Lục Hào Nạp Giáp. Quy trình này dựa trên tính chất Âm Dương của từng đơn quái (quẻ đơn gồm ba vạch) và vị trí của chúng là nội quái (ba hào dưới, từ hào 1 đến hào 3) hay ngoại quái (ba hào trên, từ hào 4 đến hào 6).

Đối với các quẻ Dương bao gồm Càn, Chấn, Khảm, Cấn, các Địa Chi được sắp xếp theo chiều thuận (chiều xuôi của mười hai địa chi) và cách quãng một chi. Đối với các quẻ Âm bao gồm Tốn, Ly, Khôn, Đoài, các Địa Chi lại được xếp theo chiều nghịch (chiều ngược lại của địa chi) và cũng cách quãng một chi. Cách phân bổ cụ thể cho từng quẻ đơn được thực hiện rõ ràng theo tính chất của từng nhóm quẻ.
Cách nạp chi cho bốn quẻ Dương
Bốn quẻ Dương đi theo chiều thuận, bắt đầu từ một chi khởi đầu xác định rồi nhảy cách một vị trí để nạp cho ba hào của nội quái hoặc ngoại quái.
Quẻ Càn và quẻ Chấn có cách nạp chi hoàn toàn giống nhau. Nội quái Càn hoặc Chấn bắt đầu từ chi Tý tại hào 1, tiếp đến hào 2 là Dần, hào 3 là Thìn. Ngoại quái Càn hoặc Chấn bắt đầu từ chi Ngọ tại hào 4, tiếp đến hào 5 là Thân, hào 6 là Tuất.
Quẻ Khảm lấy Thủy làm gốc nên nội quái khởi đầu từ chi Dần tại hào 1, hào 2 là Thìn, hào 3 là Ngọ. Ngoại quái Khảm bắt đầu từ chi Thân tại hào 4, hào 5 là Tuất, hào 6 là Tý.
Quẻ Cấn đại diện cho Thổ có nội quái bắt đầu từ chi Thìn tại hào 1, hào 2 là Ngọ, hào 3 là Thân. Ngoại quái Cấn bắt đầu từ chi Tuất tại hào 4, hào 5 là Tý, hào 6 là Dần.
Cách nạp chi cho bốn quẻ Âm
Bốn quẻ Âm đi theo chiều nghịch, nghĩa là thứ tự các chi sẽ đi lùi từ cuối về đầu và cách quãng một chi.
Quẻ Tốn đại diện cho Phong có nội quái bắt đầu từ chi Sửu tại hào 1, đi nghịch lại bỏ qua Tý để đến hào 2 là Hợi, hào 3 là Dậu. Ngoại quái Tốn bắt đầu từ chi Mùi tại hào 4, hào 5 là Tị, hào 6 là Mão.
Quẻ Ly đại diện cho Hỏa có nội quái bắt đầu từ chi Mão tại hào 1, đi nghịch đến hào 2 là Sửu, hào 3 là Hợi. Ngoại quái Ly bắt đầu từ chi Dậu tại hào 4, hào 5 là Mùi, hào 6 là Tị.
Quẻ Khôn đại diện cho Địa có nội quái bắt đầu từ chi Mùi tại hào 1, hào 2 là Tị, hào 3 là Mão. Ngoại quái Khôn bắt đầu từ chi Sửu tại hào 4, hào 5 là Hợi, hào 6 là Dậu.
Quẻ Đoài đại diện cho Trạch có nội quái bắt đầu từ chi Tị tại hào 1, hào 2 là Mão, hào 3 là Sửu. Ngoại quái Đoài bắt đầu từ chi Hợi tại hào 4, hào 5 là Dậu, hào 6 là Mùi.
Việc ghi nhớ các mốc khởi đầu của từng quẻ giúp người nghiên cứu dễ dàng tự lập quẻ mà không cần tra cứu sách vở. Quá trình nạp chi này luôn đi đôi với quy tắc an thiên can để tạo thành các cặp Can Chi hoàn chỉnh cho mỗi hào. Sự kết hợp này phản ánh đầy đủ thông tin về ngũ hành sinh khắc, từ đó tạo cơ sở để xác định lục thân (phụ mẫu, huynh đệ, tử tôn, thê tài, quan quỷ) phục vụ quá trình luận giải cát hung. Hiểu rõ nguồn gốc phân bổ địa chi cũng giúp người học nắm chắc nguyên lý nạp giáp vốn là nền tảng của hệ thống dự đoán học này.